Share
Go down
avatar
Admin
Tổng số bài gửi : 389
Points : 704
Reputation : 0
Join date : 11/10/2018
Xem lý lịch thành viênhttp://thanthan.forumvi.com

Phân tích đoạn trích Hai cây phong trong tác phẩm Người thầy đầu tiên của Ai-ma-tốp Empty Phân tích đoạn trích Hai cây phong trong tác phẩm Người thầy đầu tiên của Ai-ma-tốp

on Sat Oct 27, 2018 7:39 pm
Ai-ma-tốp sinh năm 1928, trong một gia đình viên chức ở nước cộng hoà cư-rư-gư-xtan (hay còn gọi là Kir-ghi-zi) ở vùng Trung Á (thuộc Liên Xô cũ). Năm 1953, Ai-ma-tốp tốt nghiệp Đại học nông nghiệp, trở thành kĩ sư chăn nuôi. Mấy năm sau, ông học sáng tác rồi chuyển sang hoạt động báo chí và viết văn. Tập Núi đồi và thảo nguyên của Ai-ma-tốp đã được trao tặng Giải thưởng Lê-nin, một giải thưởng cao quý của Liên bang Xô viết. Tác phẩm này gồm ba truyện vừa: Người thầy đầu tiên, Cây phong non trùm khăn đỏ, Mắt lạc đà. Ngoài ra, Ai-ma-tốp còn có nhiều tác phẩm nổi tiếng khác như Vĩnh biệt Gun-xa-rư (1966). Con tàu trắng (1970), Một ngày dài hơn thế (1980)… Tên tuổi nhà văn Ai-ma-tốp đã trở nên quen thuộc với bạn đọc trên toàn thố giới.

Hai cây phong là đoạn trích từ mấy trang đầu của truyện Người thầy đầu tiên.

Bối cảnh của truyện là làng Ku-ku-rêu ở một vùng núi hẻo lánh, nghèo nàn, lạc hậu vào thời kì đầu thế kỉ hai mươi. Thời đó, tư tưởng phong kiến, gia trưởng còn nặng nề, phụ nữ bị coi thường và trẻ mồ côi bị rẻ rúng. Cô bé An-tư-nai đã mất cả cha lẫn mẹ, phải sống nhờ gia đình chú thím. Cô phải làm việc quần quật suốt ngày và chịu sự giám sát hà khắc của bà thím dâu đáo để, độc ác. Thầy giáo trẻ Đuy-sen được Đoàn thanh niên Cộng sản cử về làng để mở trường xoá mù chữ đã hết lòng giúp đỡ để An-tư-nai được đi học. Bà thím tham tiền ép gả cô bé làm vợ lẽ một gã đàn ông khá giả trong vùng. Một lần nữa, cô bé lại được thầy Đuy-sen giải thoát và gửi lên tỉnh học, rồi tiếp tục học đại học ở Mát-xcơ-va. Sau này, cô trở thành nữ viện sĩ An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va. Cồn thầy Đuy-sen lúc về già làm nghề đưa thư.

Đoạn trích Hai cây phong là bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ và là kí ức sâu sắc của tuổi thơ hiện lên qua dòng hồi tưởng tràn đầy cảm xúc yêu thương. Thông qua việc miêu tả vẻ đẹp của hai cây phong, tác giả ca ngợi quê hương yêu dấu, nơi đã khắc sâu bao kỉ niệm buồn vui và hun đúc trong tâm hồn thơ dại những ước mơ, khát khao cháy bỏng.

Đây là câu chuyện của một người xa quê kể về nơi chôn nhau cắt rốn của mình bằng tình cảm gắn bó tha thiết, thiêng liêng. Mở đầu đoạn văn, tác giả giới thiệu vị trí của làng mình trên thảo nguyên bao la:Làng Ku-ku-rêu chúng tôi nằm ven chân núi, trên một cao nguyên rộng có những khe nước ào ào từ nhiều ngách đá đổ xuống. Phía dưới làng tôi là thung lũng Đất vàng, là cánh thảo nguyên Ca-dắc-xtan mênh mông nằm giữa các nhánh của rặng núi Đen và con đường sắt làm thành một dải thẫm màu băng qua đồng bằng chạy tít đến tận chân trời phía Tây.

Khung cảnh trữ tình này vừa là phông nền làm nổi bật hình ảnh hai cây phong, vừa là nguồn cảm hứng bất tận của tác giả:

Phía trên làng tôi, giữa một ngọn đồi, có hai cây phong lớn. Tôi biết chúng từ thuở bắt đầu biết mình. Dù ai đi từ phía nào đến làng Ku-ku-rêu chúng tôi cũng đều trông thấy hai cây phong đó trước tiên, chúng luôn hiện ra trước mắt hệt như những ngọn hải đăng đặt trên núi… Cứ mỗi lần về quê, khi xuống xe lửa đi qua thảo nguyên về làng, tôi đều coi bổn phận đầu tiên là từ xa đưa mắt tìm hai cây phong thân thuộc ấy. Tâm trạng này của tác giả giống như tâm trạng của người đi xa, nóng lòng muốn gặp lại người thân sau bao ngày cách biệt. Dẫu chưa nhìn thấy cây nhưng hình ảnh thân thuộc của chúng đã hiện rõ trong tâm tưởng: Dù chúng có cao đến đâu chăng nữa, đứng xa thế cũng khó lòng trông thấy ngay được, nhưng tôi thì bao giờ cũng cảm biết được chúng, lức nào cũng nhìn rõ.

Hình ảnh của hai cây phong được coi là dấu ấn của làng đã in sâu trong trái tim, khối óc và trở thành một phần máu thịt của người đi xa :

Đã bao lần tôi từ những chốn xa xôi trở về Ku-ku-rêu, và lần nào tôi cũng nghĩ thầm với một nỗi buồn da diết: “Ta sắp được thấy chúng chưa, hai cây phong sinh đôi ấy? Mong sao chóng về tới làng, chóng lên đồi mà đến với hai cây phong! Rồi sau đó cứ đứng dưới gốc cây để nghe mãi tiếng lá reo cho đến khi say sưa ngây ngất”.

Tình yêu tha thiết dành cho hai cây phong tuôn chảy không ngừng dưới ngòi bút tinh tế của nhà văn đã mang lại cho hai cây phong đời sống tâm hồn phong phú như con người. Đây là bức tranh được vẽ bằng thứ ngôn ngữ đầy tính tạo hình của hội họa và tính trữ tình của thơ, của nhạc:
Trong làng tôi không thiếu gì các loại cây, nhưng hai cây phong này khác hẳn – chúng có tiếng nói riêng và hẳn phải có một tâm hồn riêng, chan chứa những lời ca êm dịu. Dù ta tởi đây vào lúc nào, ban ngày hay ban đêm, chúng cũng vẫn nghiêng ngả thân cây, lay động lá cành, không ngớt tiếng rì rào theo nhiều cung bậc khác nhau. Có khi tưởng chừng như một làn sóng thủy triều dâng lên vỗ vào bãi cát, có khi lại nghe như một tiếng thì thầm thiết tha nồng thắm truyền qua lá cành như một đốm lửa vô hình, có khi hai cây phong bỗng im bặt một thoảng, rồi khắp lá cành lại cất tiếng thở dài một lượt như thương tiếc người nào. Và khi mây đen kéo đến cùng với bão dông, xô gãy cành, tia trụi lá, hai cây phong nghiêng ngả tấm thân dẻo dai và reo vù vù như một ngọn lửa bốc cháy rừng rực.

Hai cây phong được quan sát, miêu tả tỉ mỉ, sinh động bằng đôi mắt họa sĩ, đôi tai nhạc sĩ và trái tim của nhà thơ. Bên cạnh bức tranh bằng ngôn từ là một bản giao hưởng của âm thanh với đủ cung bậc buồn vui. Người viết đã phát huy cao độ trí tưởng tượng bay bổng và cảm xúc say mê, nồng nhiệt của mình vào việc thể hiện vẻ đẹp lạ thường của hai cây phong. Có khi chúng thì thầm thiết tha nồng nàn, có khi chúng bỗng im bặt một thoáng, rồi khấp lá cành lại cất tiếng thở dài một lượt như thương tiếc người nào. Được nhân cách hóa cao độ nên hai cây phong có tiếng nói và tâm hồn đa dạng, phong phú, cuốn hút lòng người.

Âm thanh huyền ảo phát ra từ hai cây phong làm say đắm tuổi thơ sau này đã được nhà văn khám phá ra nhờ những hiểu biết khoa học:
Về sau, khi nhiều năm đã trôi qua, tôi mới hiểu được điều bí ẩn của hai cây phong. Chẳng qua chúng đứng trên đồi cao lộng gió nên đáp tại bất kì chuyển động khe khẽ nào của không khí mỗi chiếc lá nhỏ đều nhạy bén đón tấy mọi làn gió nhẹ thoảng qua.

Dấu ấn và kỉ niệm về hai cây phong vẫn còn nguyên vẹn sau ngần ấy thời gian bởi vì hai cây phong gắn bó thân thiết với tuổi học trò. Tác giả kể rằng : Việc khám phá ra chân lí giản đơn ấy vẫn không làm tồi vỡ mộng xưa, không làm tôi bỏ mất cách cảm thụ của tuổi thơ mà tôi còn giữ đến tận ngày nay. Và cho đến tận ngày nay tôi vẫn thấy hai cây phong trên đồi có một vẻ sinh động khác thường. Tuổi trẻ của tôi đã để lại nơi ấy, bên cạnh chúng như một mảnh vỡ của chiếc gương thân xanh…

Hai cây phong đẹp như những cây thần trong cổ tích, vẻ đẹp kì diệu của chúng sẽ mãi mãi in sâu trong tâm khảm nhà văn, bất chấp quy luật thay đổi của thiên nhiên, của lòng người bởi vì nó được nhìn qua đôi mắt trẻ thơ chan chứa tình yêu nồng nàn, sâu đậm đối với những gì thân thuộc nhất của quê hương.

Theo dòng hồi tưởng miên man, kỉ niệm gắn liền với hai cây phong dần dần hiện lên rõ ràng, tươi mới như vừa xảy ra hôm qua. Những lúc được vui chơi cùng cây là những khoảnh khắc vui sướng, hạnh phúc của tuổi thơ:

Vào năm học cuối cùng, trước khi bắt đầu nghỉ hè, bọn con trai chúng tôi chạy ào lên đấy phá tổ chim. Cứ mỗi lần chúng tôi reo hò, huýt còi ầm ĩ chạy lên đồi là hai cây phong khổng lồ lại nghiêng ngả đung đưa như muốn chào mời chúng tôi đến với bóng râm mát rượi và tiếng lá xào xạc dịu hiền. Và chúng tôi, lũ nhóc con đi chân đất, cõng kênh nhau bám vào các mắt mấu và cành cây trèo lên cao làm chấn động cả vương quốc loài chim. Hàng đàn chim hoảng hốt kêu lên, chao đi chao lại trên đầu. Nhưng chúng tôi vẫn chưa coi vào đâu, đến đây đã thấm gì! Chúng tôi cứ leo lên cao nữa, cao nữa – nào xem ai can đảm và khéo léo hơn ai! Và từ trên những cành cao ngất, cao đến ngang tầm cánh chim bay, bỗng như có một phép thần thông nào vụt mở ra trước mắt chúng tôi cả một thế giới đẹp đẽ vô ngần của không gian bao la và ánh sáng.

Tưởng chừng như cảm giác háo hức, hiếu kì của cậu bé mười mấy tuổi năm nào khi trèo lên ngọn cây, phóng tầm mắt về phía chân trời và lắng tai nghe tiếng gió ảo huyền thì thầm trò chuyện với lá phong giờ đây vẫn còn nóng hổi trong tâm hồn người họa sĩ:

Đất rộng bao la làm chúng tôi sửng sốt. Mỗi đứa chúng tôi đều nín thở ngồi lặng đi trên một cành cây và quên mất cả chim lẫn tổ chim. Chuồng ngựa của nông trang mà chúng tôi vẫn coi là tòa nhà rộng lớn nhất trên thế gian, ngồi đây chúng tôi thấy chỉ như một căn nhà xép bình thường. Phía sau làng là dải thảo nguyên hoang vu mất hút trong làn sương mờ đục. Chúng tôi cố giương hết tầm mắt nhìn vào nơi xa thẳm biêng biếc của thảo nguyên và nhìn thấy không biết bao nhiêu, bao nhiêu là vùng đất mà trước đây chúng tôi chưa từng biết đến, thấy những con sông mà trước đây chúng tôi chưa từng nghe nói.

Những dòng sông lấp lánh tận chân trời như những sợi chỉ bạc mỏng manh. Chúng tôi nép mình ngồi trên các cành cây suy nghĩ: đã phải đấy là nơi tận cùng thế giới chưa, hay phía sau vẫn còn có bầu trời như thế này, những đám mây, những đồng cỏ và sông ngòi như thế này? Hình ảnh hai cây phong gợi lại những ki niệm khó quên về thời niên thiếu tinh nghịch, hồn nhiên, trong sáng. Nó nâng cao và mở rộng tầm mắt, đồng thời thổi bùng lên ngọn lửa khát khao hiểu biết trong lòng nhà văn về những miền đất bí ẩn đầy sức quyến rũ lẩn sau chân trời xa thẳm biêng biếc kia…

Kết thúc đoạn văn, tác giả đặt ra câu hỏi ai đã trồng hai cây phong và đặt tên cho quả đồi: Thuở ấy, chỉ có một điều tồi chưa hề nghĩ đến ai là người đã trồng hai cây phong trên đồi này ? Người vô danh ấy đã ước mơ gì, đã nói, những gì khi vùi hai gốc cây xuống đất, người ấy đã ấp ủ những niềm hi vọng gì khi vun xới chúng nơi đây, trên đỉnh đồi cao này?

Quả đồi có hai cây phong ấy, không biết vì sao ở làng tôi họ gọi là “Trường Đuy-sen”.

Cuối tác phẩm, tác giả đã giải thích nguồn gốc của hai cây phong bằng một câu chuyện cảm động gắn liền với tình thầy trò thắm thiết. Cách đây bốn mươi năm, chính thầy Đuy-sen đã đem hai cây phong về trồng trên đồi này và thầy đã gửi gắm ở hai cây phong non hi vọng của mình vào những đứa trẻ nghèo khổ, thất học như An-tư-nai sau này sẽ trở thành những người hữu ích. Thầy Đuy-sen đã gieo những hạt giống ước mơ vào tâm hồn non trẻ. Hai cây phong đầu làng qua bao năm tháng đã thầm lặng góp phần cùng người thầy đầu tiên biến ước mơ thành hiện thực.

Chuyện về hai cây phong giống như lời tâm sự tự nhiên và chân thành. Tác giả đã truyền tình yêu tha thiết từ trái tim mình sang trái tim bạn đọc, dẫn dắt bạn đọc đến với nhân vật Đuy-sen – người thầy đầu tiên của ngôi làng Ku-ku-rêu nghèo nàn, nhỏ bé bằng đoạn văn miêu tả vẻ đẹp khó quên của hai cây phong nhân chứng của câu chuyện hết sức xúc động về tình thầy trò, về lương tâm và trách nhiệm cao cả của thầy giáo Đuy-sen.

Sưu tầm
avatar
Admin
Tổng số bài gửi : 389
Points : 704
Reputation : 0
Join date : 11/10/2018
Xem lý lịch thành viênhttp://thanthan.forumvi.com

Phân tích đoạn trích Hai cây phong trong tác phẩm Người thầy đầu tiên của Ai-ma-tốp Empty Re: Phân tích đoạn trích Hai cây phong trong tác phẩm Người thầy đầu tiên của Ai-ma-tốp

on Sat Oct 27, 2018 7:40 pm
Người thầy đầu tiên là một tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Ai-ma-tốp đã đạt được giải thưởng Lê-nin. Đoạn trích Hai cây phong là phần đầu tiên của thiên truyện đã giúp người đọc cảm nhận được tài năng sáng tác của nhà văn, vẻ đẹp đặc sắc của hình ảnh Hai cây phong là vẻ đẹp tâm hồn của lớp trẻ, gắn bó giữa cây và người thuộc thế hệ nối tiếp bước đi của Người thầy đầu tiên. Đúng như ai đó đã nhận định: Ngọn cây và tầm nhìn, phải chăng đây chính là ý nghĩa bao trùm mà người đọc có thể cảm nhận được từ đoạn trích.

Tài năng sáng tạo nghệ thuật của Ai-ma-tốp được thể hiện trong đoạn văn bằng ngòi bút miêu tả xen lẫn tự sự, thời gian hiện tại xen lẫn với hồi tưởng quá khứ, nhân vật chúng tôi song song đồng hiện với nhân vật tôi, cùng tâm sự, sẻ chia từng suy nghĩ, cảm xúc với người đọc. Do đó, ngôn từ, hình ảnh cứ chấp chới bay lượn, lúc ẩn, lúc hiện, lúc thực, lúc mơ rất thú vị. Hình ảnh hai cây phong hiện lên, những trò vui tuổi trẻ được kể lại, những suy nghĩ sâu lắng, những cảm xúc dạt dào cứ ngân lên sau mỗi câu, mỗi chữ.

Nhà văn đã hóa thân vào nhân vật tôi, người họa sĩ đã vẽ lại hình ảnh hai cây phong mà từ xa nhìn lại ngỡ như thấy những ngọn hải đăng đặt trên núi. Ngọn hải đăng đứng bên bờ biển tỏa ánh sáng soi đường, dẫn dắt những con tàu cập bến. Còn hai cây phong kia cũng đã từng làm nhiệm vụ chỉ lối dẫn đường cho biết bao nhiêu người con của làng Ku-ku-rêu hướng về, tìm về quê hương. Nghệ thuật so sánh của nhà văn vô cùng có ý nghĩa. Vì cứ thế, mỗi lần về quê, tôi – người họa sĩ, người kể chuyện- xác định bổn phận đầu tiến là từ xa đưa ảnh mắt tìm hai cây phong thân thuộc. Và cứ mỗi lần như thế, tôi lại mong sao chóng về tới làng, chóng được lên đồi đứng với cây, đứng dưới gốc cây để nghe mãi tiếng lá reo cho đến khi say sưa, ngây ngất.

Bên cạnh hai cây phong đứng sừng sững, hiên ngang trên đồi cao như một biểu tượng tâm hồn quê hương còn có hình ảnh một người con yêu quê hương da diết. Nhờ tình yêu ấy mà tôi – nhân vật kể chuyện nghe được tiếng nói riêng, những lời ca êm dịu của hai cây phong, hai sinh thể sống động như con người. Tác giả đã hóa thân vào nhân vật phải chăng đó là một sáng tạo trong nghệ thuật đặc sắc của Ai-ma-tốp, để rồi kể, miêu tả với hàng loạt những liên tưởng, so sánh, nhân hóa âm thanh tiếng nói của hai cây phong. Dù ban ngày hay ban đêm, chúng vẫn nghiêng ngả, lay động lá cành không ngớt tiếng rì rào…, có khi tưởng chừng như một làn sóng thủy triều dâng lên vỗ vào bãi cát…, có khi… thì thầm… nồng thắm… như một đốm lửa vô hình có lúc khắp lá cành lại cất tiếng thở dài một lượt như thương tiếc người nào…. Và khi mây đen kéo đến thì hai cây phong nghiêng ngả tấm thân dẻo dai và reo vù vù như một ngọn lửa bốc cháy rừng rực. Phải là một người mang một tâm hồn nghệ sĩ hài hòa hai tố chất – hội họa và âm nhạc, thì mới vẽ lại được những đường nét, sắc màu, nghe lại được những âm thanh trầm bổng, thấm đượm hơi lửa nồng ấm, đắm say của những vẻ đẹp mà hai cây phong đã phô ra, đã chuyển tới. Hai cây phong qua cảm nhận của người nghệ sĩ đã hiện lên với hình hài cao lớn, hiên ngang, với đường nét lá cành uyển chuyển, nhất là với tiếng reo đa âm thanh… kỳ diệu. Phải chăng đó là hình ảnh của quê hương, cũng là biểu tượng của sức sống mãnh liệt, dẻo dai, kiên hùng bất khuất mà vẫn dịu dàng, thân thương của những con người làng Ku-ku-rêu. Khi người họa sĩ đứng dưới gốc cây nghe mãi tiếng lá reo cho đến khi say sưa, ngây ngất. Đoạn văn có nhiều hình ảnh, từ ngữ tượng hình, tượng thanh sinh động có tác dụng truyền cảm tới người đọc, hấp dẫn như một khúc hát tâm tình mà sâu lắng. Để rồi người nghe phải thốt lên rằng: Ôi! Tình yêu quê hương trong tâm hồn Ai-ma-tốp đã ngây ngất hòa quyện cùng với đất trời, cây lá, hòa quyện cùng với con người quê hương !

Theo dòng hồi tưởng, ký ức tuổi thơ về hai cây phong lại hiện về trong tâm trí của nhân vật tôi . Ngôn ngữ lời văn đã tố sự chuyển đổi, từ hiện tại tới cách cảm nhận của một người đã trưởng thành trở lại với những kỷ niệm tuổi thơ êm đềm và thơ mộng. Hoài niệm về tuổi thơ về quê hương bao giờ cũng đằm thắm, thiết tha. Đọc đến đây, người đọc cứ ngỡ là Ai-ma-tôp đang bé lại để sống với một kỷ niệm tuyệt vời. Vào một ngày nào đó của năm học cuối cùng trước khi nghỉ hè, tôi – người kể chuyện – lên cao, cao nữa, cao mãi, có lẽ cao tới gần ngọn cây và chúng tôi, lũ nhóc con đi chân đất… trèo lên cao làm chấn động vương quốc loài chim. Một lời kể, một nhận xét sao mà ngây thơ và thú vị đến thế! Các cậu bé giống như những chú chim non đã chiếm lĩnh hết cả vương quốc này, vòm cây xanh, bầu trời rộng. Từ độ cao ngang tầm cánh chim bay các cậu đã nhìn thấy cả một thế giới đẹp đẽ vô ngần của không gian bao la ánh sáng. Đến những dòng này, nhân vật tôi mờ đi nhường chỗ cho chúng tôi hiện lên choán lấy tất cả. Tại sao lại phải chuyển đổi mạch kể như vậy nhỉ? Phải chăng nhà văn muốn thay đổi điểm nhìn, muốn hóa thân thực sự vào thế giới tuổi thơ để cảm nhận những vẻ đẹp thơ mộng của quê hương mình. Và thế là từ ngọn cây, làng Ku-ku-rêu của đất nước Cư-rư-gư-xtan đã hiện ra: đất rộng bao la làm chúng tôi sửng sốt… Chuồng ngựa của nông trang mà chúng tôi vẫn coi là tòa nhà rộng lớn nhất thế gian, ngồi đây chúng tôi chỉ thấy như căn nhà xếp bình thường. Phía sau làng là dải thảo nguyên hoang vu mất hút trong làn sương mờ đục. Và xa hơn nữa là dòng sông lấp lánh tận chân trời như những sợi chỉ bạc mỏng manh…

Từ vị trí ngọn cây phong của làng, các cậu bé được sống trong những giây phút hạnh phúc đến ngây ngất chúng tôi nép mình ngồi trên các cành cây suy nghĩ…Chúng tôi ngồi nép trên các cành cây, lắng nghe…. Quả thật, trong những giây phút ấy, ở những đỉnh cao ấy, tầm nhìn của tuổi thơ được mở rộng, chiều suy nghĩ được khơi sâu, cả tâm hồn và trí tuệ như đang cùng cất cánh để cảm nhận biết bao vẻ đẹp rộng dài, lắng nghe biết bao âm thanh huyền ảo, suy nghĩ và mơ mộng, khát khao biết bao điều thiêng liêng, kỳ thú. Có phải nhà văn muốn nói, nhờ hai cây phong lớn cao, vững vàng, nâng đỡ, dìu dắt những chú bé làng Ku-ku-rêu lên tận đỉnh ngọn để mở rộng tầm nhìn, vươn tới bao nhiêu điều bổ ích mà điều bổ ích nhất là giàu có thêm tâm hồn và trí tuệ. Chỉ bằng một kỷ niệm tuổi thơ cụ thể, một nhân vật cụ thể, nhà văn đã thức tỉnh trong lòng người đọc biết bao kỷ niệm êm đềm, thân thương về quê hương, đất nước khi còn thơ cũng như về già. Ta bắt gặp tình cảm nhớ quê hương da diết của Tế Hanh qua dòng sông quê mẹ với biết bao kỷ niệm thời thơ ấu qua những dòng thơ:

…Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy

Bầy chim non bơi lội trên sông

Tôi đưa tay ôm nước vào lòng

Sông mở nước ôm tôi vào dạ…

(Nhớ con sồng quê hương – Tế Hanh)

Xúc động biết bao! Sau bao năm bôn ba nám châu bốn biển để tìm đường cứu nước cho dân tộc, Bác trở về với nắm đất trong tay:

… Kia bóng Bác đang ôm hôn hòn đất

Trong màu hồng hình đất nước phôi thai…

(Người đi tìm hình của nước – Chế Lan Viên)

Ôi! Quê hướng là mảnh đất thân thương, là dòng sông thơ mộng, là con đò nhỏ, là cây bưởi, cây phong…! Tất cả đều gần gũi với đời thường nhưng bao giờ cũng đằm thắm, thiết tha!

Tôi lắng nghe tiếng hai cây phong rì rào, tim đập rộn ràng vì thảng thốt và vui sướng, rồi trong tiếng xào xạc không ngớt ấy, tôi cố hình dung ra những miền xa lạ kia. Thuở ấy chỉ có một điều tôi chưa hề nghĩ đến: ai là người trồng hai cây phong trên đồi này… Quả đồi có hai cây phong ấy, không biết vì sao ở làng tôi, gọi là Trường Đuy-sen…. Đến những dòng văn xuôi này, nhân vật kể chuyện lại một lần nữa chuyển giọng kể. Từ Chúng tôi, nhân vật xưng tôi . Đây chính là những dòng văn dẫn vào câu chuyện kể về những con người kỳ diệu của quê hương mình. Đây là những tâm niệm của người họa sĩ đi xa trở về được gặp lại hai cây phong, được sống lại với ký ức tuổi thơ mộng mơ, lãng mạn để rồi luôn nhớ tới và biết ơn những người đi trước, mở đường và gieo trồng những hạt giống, vun xới cho cây Cối, giáo dục và thức tỉnh con người lớn lên. Đó là tâm niệm của một tấm lòng nhân hậu, biết ăn quả nhớ kẻ trồng cây, để chúng ta yêu quí và trân trọng! Từ sự cảm nhận những vẻ đẹp của hai cây phong, Ai-ma-tôp – người họa sĩ đã kể về một kỷ niệm tuổi thơ rất đẹp mà giàu ý nghĩa: Ngọn cây và tầm nhìn. Nghĩa là cây càng vươn cao, trưởng thành bao nhiêu, tầm mắt (sự hiểu biết) càng được mở rộng bao nhiêu, nhưng đừng quên gốc rễ, cội nguồn của mình.

Đoạn trích hai cây phong được viết qua cái nhìn và dòng hồi tưởng về tuổi thơ đầy mơ mộng và sâu lắng của một họa sĩ. Đó là những trang viết chứa chan thi vị, đã thế hiện sâu sắc tình yêu quê hương, tình yêu cây cỏ, cảnh sắc thiên nhiên quê nhà, những kỷ niệm đẹp của tuổi thơ, lòng biết ơn người thầy đầu tiên của mình, của quê hương mình. Tất cả đã làm nên chất thơ của truyện. Từ hai cây phong của xứ người, chúng ta không thể không nhớ tới những cội nguồn của đất nước: cây đa, giếng nước, dòng sông, lũy tre làng ở Việt Nam. Đó chẳng phải là hồn quê hương sao?

Sưu tầm
Về Đầu Trang
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết